Tóm tắt tài liệu: Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn năm 2027 (Đề số 01) xây dựng theo định hướng đánh giá năng lực. Phần Đọc hiểu (4,0 điểm) khai thác tản văn 'Khói chiều gọi mẹ' (An Võ) với 5 câu hỏi phân hóa. Phần Viết (6,0 điểm) yêu cầu viết đoạn văn phân tích đặc sắc chủ đề và bài văn nghị luận xã hội bàn về ký ức quê hương đối với người trẻ. Bài viết đi kèm hướng dẫn chấm và đáp án chi tiết.
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
KHÓI CHIỀU GỌI MẸ
Rời đơn vị, trong chuyến dã ngoại này, chúng tôi hành quân về một miền quê yên ả. Hoàng hôn đang xuống. Những vệt nắng đỏ cuối ngày còn vương trên sườn núi. Xa xa, phía thung lũng, những ngôi nhà nép mình dưới màu xanh cây lá thật bình yên. Từ những ngôi nhà nhỏ như cây nấm mọc bên sườn núi, khói bếp chầm chậm bay lên. Nhìn những sợi khói như sợi chỉ nối đất với trời cứ lặng lẽ nhạt dần rồi tan vào gió, tự nhiên ùa về trong tôi cả miền ký ức. Tôi nhớ quê, nhớ căn bếp cũ, nhớ mẹ, nhớ tuổi thơ lớn lên trong hơi ấm của ngọn lửa quê nhà.
Đã lâu rồi tôi chưa về quê. Mẹ cũng đã già. Mái tóc một thời đen nhánh giờ bạc như mây. Có lẽ khói bếp đã đi cùng mẹ suốt cả cuộc đời, qua những mùa cấy gặt, những mùa mưa dầm, những mùa nắng cháy. Khói bám vào tà áo, vào mái tóc, vào tiếng ho khe khẽ mỗi buổi chiều nhóm lửa. Ngày ấy, chái bếp nhà tôi lúc nào cũng bảng lảng một màu khói. Mẹ lom khom nhóm lửa, thêm từng nắm rơm cháy đượm, trở nồi cơm, rồi đảo nồi cá kho thơm lựng. Chúng tôi ngồi nép bên bếp, vừa chờ bữa cơm chiều, vừa háo hức đợi những củ khoai nướng được moi ra từ lớp tro hồng.
Những trưa hè miền Trung nắng như đổ lửa. Ngoài đồng vừa gặt xong, mẹ gánh về sân, chưa kịp nghỉ lưng đã lại lặng lẽ bước vào bếp lo bữa cơm cho cả nhà. Gian bếp hầm hập hơi nóng. Những cọng rơm khô bùng lên đỏ rực. Mồ hôi mẹ túa ra như tắm, thấm ướt lưng áo, chảy thành từng giọt trên gương mặt đã sạm màu nắng gió. Chiếc nón lá trở thành chiếc quạt nhỏ. Lúc phe phẩy cho mẹ đỡ nóng, lúc quạt cho ngọn lửa bén đều. Căn bếp mùa hè giống như một chiếc lò nung. Vậy mà mẹ vẫn ngồi đó, thêm rơm để nấu bữa trưa cho chóng, rồi khẽ đưa tay lau giọt mồ hôi nơi khóe mắt.
Những ngày nắng đẹp, khói hiền lành biết mấy. Khói thong thả bay lên, quanh quẩn bên mái nhà, như còn lưu luyến khoảng sân đầy rơm mới, hàng cau trước ngõ, bụi chuối sau vườn rồi mới tan vào gió. Còn những ngày mưa, khói cuộn lại trong gian bếp nhỏ. Khói quẩn quanh, len lỏi đi tìm một lối lên trời. Mưa càng nặng hạt, khói càng đặc. Mẹ lại ho... Tiếng ho chen giữa tiếng mưa ngoài hiên nghe buốt cả tuổi thơ.
Ngoài hiên, mưa rơi rả rích. Trong bếp, ngọn lửa hồng reo vui. Dưới lớp tro ủ, những củ khoai nướng tỏa hương, mẻ lạc rang thơm phức. Chỉ một gian bếp nhỏ thôi mà đủ sưởi ấm cả một tuổi thơ.
Bao nhiêu năm rồi, chỉ cần bất chợt gặp một làn khói chiều, lòng tôi lại ấm lên như vừa được trở về. Khói lặng lẽ mang theo hơi ấm của mẹ, ôm ấp tuổi thơ chúng tôi trong những tháng năm nghèo khó.
Đời người nông dân cũng vậy. Lớn lên cùng hạt lúa, củ khoai, cùng bùn đất và nắng gió. Cả một đời lặng lẽ gieo trồng, lặng lẽ dâng hiến những mùa vàng no ấm. Đến khi tóc bạc như mây, họ bình yên trở về với đất mẹ, nhẹ nhõm như làn khói bếp sau một buổi chiều đã hoàn thành hành trình của mình. Có lẽ vì thế mà mỗi lần nhìn khói bay lên trong hoàng hôn, tôi luôn thấy thấp thoáng bóng mẹ, bóng cha và bóng những người nông dân tần tảo quê mình.
Chúng tôi men theo triền núi. Ba lô nặng trên vai... Ngoài kia, hoàng hôn đã nhạt dần. Chỉ còn những làn khói bếp vẫn miệt mài bay lên từ những mái nhà dưới chân núi. Và tôi hiểu rằng, dẫu đời người có đi qua bao miền đất, trong sâu thẳm trái tim mình vẫn luôn có một làn khói lặng lẽ bay lên từ căn bếp cũ, từ dáng mẹ, từ quê hương, để mỗi lần nhớ lại, lòng lại bình yên như vừa được trở về.
(Khói chiều gọi mẹ, Báo Quân đội nhân dân, An Võ, 25/07/2026)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Nêu dấu hiệu nhận biết của ngôi kể trong văn bản.
Câu 2. Chỉ ra những câu văn là bằng chứng cho sự đồng hành giữa mẹ và khói bếp.
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn sau: "Những ngày nắng đẹp, khói hiền lành biết mấy. Khói thong thả bay lên, quanh quẩn bên mái nhà, như còn lưu luyến khoảng sân đầy rơm mới, hàng cau trước ngõ, bụi chuối sau vườn rồi mới tan vào gió."
Câu 4. Phân tích hình ảnh tượng trưng khói bếp của văn bản trên.
Câu 5. Từ đoạn văn: "Và tôi hiểu rằng, dẫu đời người có đi qua bao miền đất, trong sâu thẳm trái tim mình vẫn luôn có một làn khói lặng lẽ bay lên từ căn bếp cũ, từ dáng mẹ, từ quê hương, để mỗi lần nhớ lại, lòng lại bình yên như vừa được trở về.", anh/chị nhận xét tình cảm của tác giả dành cho quê hương.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nét đặc sắc về chủ đề của văn bản trên.
Câu 2 (4,0 điểm): Từ nội dung văn bản đọc hiểu Khói chiều gọi mẹ và sự hiểu biết của bản thân về xã hội hiện nay, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) với chủ đề: Ký ức quê hương trong tâm thức người trẻ.
ĐÁP ÁN - HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ SỐ 01
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1 (0,5 điểm): Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất. Dấu hiệu: người kể xưng "tôi", "chúng tôi", trực tiếp tham gia và kể lại những trải nghiệm, cảm xúc của mình. (Nêu được ngôi kể/dấu hiệu: 0,25đ; nêu trọn vẹn cả hai: 0,5đ).
Câu 2 (0,5 điểm): Các câu văn chứng minh sự đồng hành giữa mẹ và khói bếp:
- Có lẽ khói bếp đã đi cùng mẹ suốt cả cuộc đời
- Qua những mùa cấy gặt, những mùa mưa dầm, những mùa nắng cháy.
- Khói bám vào tà áo, vào mái tóc, vào tiếng ho khe khẽ mỗi buổi chiều nhóm lửa.
(Nêu được 2 ý: 0,25đ; nêu đủ 4 ý: 0,5đ).
Câu 3 (1,0 điểm):
- Biện pháp tu từ: Nhân hóa qua các từ ngữ "hiền lành", "thong thả", "quanh quẩn", "lưu luyến" gắn với khói.
- Tác dụng: Làm hình ảnh khói bếp trở nên sinh động, có hồn; tăng sức gợi hình gợi cảm. Gợi sự gắn bó, lưu luyến với mái nhà và không gian quê hương. Góp phần thể hiện tình yêu, nỗi nhớ của nhân vật "tôi".
Câu 4 (1,0 điểm):
- Khói bếp trước hết là hình ảnh thực gắn với căn bếp, mái nhà và sinh hoạt gia đình.
- Ở tầng nghĩa biểu tượng: gợi người mẹ, hơi ấm gia đình, tuổi thơ; tượng trưng cho quê hương, cội nguồn và những ký ức thân thương.
- Qua đó tác giả thể hiện tình yêu, nỗi nhớ, sự gắn bó sâu sắc với mẹ và quê hương; khẳng định sức sống bền lâu của ký ức.
Câu 5 (1,0 điểm):
- Tác giả dành cho quê hương tình yêu sâu sắc, sự gắn bó, nỗi nhớ da diết, sự trân trọng và biết ơn.
- Tình cảm ấy được khơi dậy từ những điều bình dị: khói bếp, căn nhà, người mẹ, tuổi thơ và những người nông dân.
- Quê hương trở thành một phần sâu thẳm trong tâm hồn; dù đi đâu con người vẫn có một nơi để nhớ và trở về.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm):
- Cấu trúc đoạn văn khoảng 200 chữ (0,25đ).
- Xác định đúng vấn đề: Nét đặc sắc về chủ đề của văn bản (0,25đ).
- Triển khai vấn đề (1,0đ): Chủ đề nói về tình mẹ, ký ức tuổi thơ, tình yêu và sự gắn bó với quê hương. Phân tích nét đặc sắc qua hình tượng khói bếp bình dị nhưng giàu ý nghĩa biểu tượng.
- Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25đ).
- Sáng tạo trong diễn đạt và cảm nhận (0,25đ).
Câu 2 (4,0 điểm):
- Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận (0,25đ).
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: Ký ức quê hương trong tâm thức người trẻ (0,25đ).
- Triển khai lập luận (2,5đ): Giải thích khái niệm (0,5đ); Bàn luận vai trò của ký ức quê hương là điểm tựa tinh thần, bồi đắp nhân cách (1,0đ); Mở rộng phản biện về nhịp sống hiện đại khiến một bộ phận người trẻ xa rời cội nguồn (0,5đ); Bài học nhận thức và hành động (0,5đ).
- Chính tả, chuẩn ngữ pháp (0,25đ).
- Sáng tạo, lập luận chặt chẽ, giàu sức thuyết phục (0,75đ).